Hỗ trợ kỹ thuật

Hỗ trợ kỹ thuật

Hỗ trợ kỹ thuật

Hỗ trợ kỹ thuật

Hỗ trợ kỹ thuật

Dịch vụ Hỗ trợ

Câu hỏi thường gặp

Cần đảm bảo chế độ ăn cân bằng, và tăng cường chất khoáng như đồng và kẽm, cũng như thực phẩm được axit hóa. Việc sử dụng các chất phụ gia như probiotic, prebiotic, chất kích thích miễn dịch, các enzyme và các loại thảo mộc, tinh dầu và chiết xuất thực vật cũng cần được quan tâm hơn trước. 

Bên cạnh đó là nâng cao năng lực quản lý trại heo, điều này sẽ giúp tránh được nhiều yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng chăn nuôi, mà điển hình là hiện tượng nuôi quá nhiều heo trong chuồng chật hẹp.

 

Cũng cần phải quan tâm tới hệ vi sinh đường ruột, mà hệ vi sinh đường ruột có hoạt động tốt hay không sẽ do thành phần thức ăn quyết định. Vì thế, người nuôi heo cần phải trau dồi kiến thức về hàm lượng dinh dưỡng trong các loại nguyên liệu thức ăn. Để biết thêm chi tiết kỹ thuật về hệ vi sinh đường ruột

 

Người nuôi heo cần ngăn chặn hiện tượng lên men các protein khó tiêu hóa xảy ở ruột già trên đàn heo của mình. Vì điều này dẫn tới việc cơ thể heo bị thiếu axit amin, và sẽ khiến heo chậm lớn, cùng với đó là ure trong máu cao, và hệ miễn dịch bị suy giảm.

  • Lượng chất thải được thoát ở mức nhiều nhất
  • Nền chuồng lúc nào cũng khô thoáng
  • Giảm tối đa mùi hôi phân heo
  • Tiết kiệm lượng nước sử dụng dội chuồng
  • Tiết kiệm nhân công cho việc dọn chuồng
  • Dễ dàng theo dõi, kiểm tra, thay thế khi cần thiết, vệ sinh

Heo có thể bị tiêu chảy do nhiễm E. coli, nhiễm vi khuẩn do khâu chăm sóc đầu đời không tốt gây viêm nhiễm (cắt răng, cắt rốn, cắt đuôi), do heo không được ủ ấm tốt, do điều kiện vệ sinh kém...

Heo con tiêu chảy quan trọng nhất là bù nước để heo không bị mất nước dẫn tới kiệt sức và chết:

- Cho uống dung dịch Vime Electrolyte: 1 g/2 lít nước uống

- Truyền dưới da hoặc xoang bụng dung dịch sinh lý mặn 0,9%, trung bình 10 - 20 ml/kg thể trọng chia 2 lần ngày.

- Làm chậm nhu động ruột để giảm tiêu chảy: Atropin liều 1 ml/5 kg thể trọng; Vime-Calamin 1 ml/5 kg thể trọng.

- Dùng kháng sinh như Ceptifi liều 1 ml/10 - 15 kg thể trọng/ngày trong 3 - 5 ngày hay Vime-Apracin liều 1 ml/10 kg thể trọng/ngày trong 3 - 5 ngày hoặc Vime SOC 1 ml/5 kg thể trọng, ngày/lần, 3 - 5 ngày để trị vi khuẩn E.coli.

Nái không cho con bú có nhiều nguyên nhân (nái không có sữa, viêm vú, nái xấu tính, nái tơ không quen nuôi con, hăng con, bị kích thích thần kinh).

a) Nái không có sữa, tức sữa nên dùng Oxytocin liều 2 ml/con để kích thích nái phún sữa. Dùng khăn nhúng nước ấm lau toàn bộ vú sẽ kích thích tạo sữa nhiều hơn kết hợp với massage vú. Sau khi có sữa nên nặn sữa vào bông trắng để thử sữa:

- Sữa tốt có màu trắng, không lợn cợn, không có máu, có thể cho heo con vào bú.

- Sữa xấu có màu, có lợn cợn, nên vắt ra chén rồi đổ bỏ. Tiếp tục massage và thử sữa cho đến khi có sữa tốt.

b) Nái viêm vú điều trị như trên kết hợp tiêm thêm thuốc kháng sinh:

- Ceptifi 1 ml/15 kg, ngày 1 lần, 3 - 4 ngày.

- Preso 1 ml/20 kg, ngày 1 lần, 3 - 4 ngày.

- Nếu vú sưng cứng tiêm Alphachymotrypsine cặp 5.000 UI, 1 cặp/nái, 1 lần/ngày, 2 - 3 ngày liên tục.

c) Nái tơ, nái xấu tính thì tập cho nái quen với việc cho con bú bằng cách cho từng heo con vào bú, chú ý nên đánh dấu để không bỏ sót heo con không được tập bú (vì sau 24 giờ không được bú sẽ cứng hàm). Có thể dùng dây buộc mõm heo nái mẹ treo lên trần nhà rồi xoa bóp vú cho sữa xuống để heo con vào bú. Nếu không hết cắn con phải tiêm thuốc an thần Prozil 1 ml/40 kg thể trọng, nái ngủ 5 - 6 giờ, lúc đó tranh thủ cho heo bú 3 - 4 cữ. Khi thức dậy nái giảm tức sữa sẽ có thể cho bú bình thường. Nếu chưa bớt hăng có thể tiêm thuốc ngủ 1 - 2 lần nữa. Sau đó bình thường là tốt. Trường hợp không bình thường sau này có thể loại nái.

Để hạn chế hiện tượng tiêu chảy khi chuyển đổi cám, bà con nên chuyển đổi từ từ như sau:

  • Ngày thứ nhất: Cám cũ: 80% - Cám mới: 20%
  • Ngày thứ hai: Cám cũ: 60% - Cám mới 40%
  • Ngày thứ ba: Cám cũ: 40% - Cám mới 60%
  • Ngày thứ tư: Cám cũ: 20% - Cám mới 80%
  • Ngày thứ năm: Cám mới 100%

Vì khi chuyển cám, hệ tiêu hóa chưa kịp thích ứng với cám mới nên heo hay bị tiêu chảy.

  • Tuần 1: Nhiệt độ chuồng là 35°C cho 2 ngày đầu và 32°C cho 5 ngày sau
  • Tuần 2: Nhiệt độ chuồng là 30°C
  • Từ tuần 3 trở đi, nhiệt độ chuồng là 28°C

Khi heo nái sắp sinh có những biểu hiện sau:

  • Cắn phá chuồng, có biểu hiện bồn chồn.
  • Ăn ít hoặc bỏ ăn.
  • Dãy vú ấm lên, sậm màu.
  • Vuốt núm vú sữa bắn thành tia.
  • Dịch nhờn có phân xu thì đẻ trong vòng 30 phút.

Có. Vì kiểm soát được nhiệt độ và độ ẩm chuồng nuôi nên heo không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường bên ngoài nhiều. Từ đó, heo ăn nhiều, khỏe mạnh, ít bệnh và lớn nhanh hơn.

Nếu nuôi chuồng xi măng hợp quy cách, đúng thông số kỹ thuật thì sẽ tốt hơn nuôi chuồng ép vì heo được vận động nên thời gian khai thác tốt hơn.

Thiết kế đơn giản, chi phí thấp, gọn gàng dễ tháo lắp, dễ vệ sinh, tận dụng được nhiều cành cây sẵn có tại gia đình, tăng diện tích không gian chuồngnuôi gà, cho gà sống đúng bản năng leo trèo và phân cấp thứ bậc, lại còn hạn chế được tối đa việc mổ việc gà cắn mổ lông nhau vì khi đỗ trên đó gà chỉ có thể quay mặt đằng trước hoặc đằng sau, không quay sang mổ nhau hay ăn lông nhau được nữa.

Có rất nhiều bà con đã từng hỏi tôi rằng, có nên cho gà sống trên sàn lưới để sạch phân hay không?  Và câu trả lời chắc chắn là không nên, vì sàn lưới dễ làm xước chân gà, những vi khuẩn theo vết thương đó đi vào các khớp gây viêm nhiễm, làm gà bị liệt. Bệnh này rất khó chữa vì kháng sinh khó mà đi được vào xương khớp của gà. một lý do khác nữa là làm sàn lưới, gà rất hay nằm chen chúc đè lên nhau, rất dễ bí hơi và ảnh hưởng đến bộ lông mượt mà của chúng. Nhìn gà lúc xuất bán rất xấu mã!

Có hai cách đang được áp dụng rất phổ biến là trồng cây leo hoặc làm dàn mưa nhân tạo. Nhưng tốt nhất và đảm bảo theo tiêu chí tiết kiệm thì chúng ta nên trồng cây sắn dây bò lên mái để chống nóng mùa hè thay vì làm dàn mưa nhân tạo. Vì sắn dây không tốn điện, lại không mất chi phí lắp đặt như dàn mưa, sắn dây xanh tốt quanh năm, sống thọ tới 5 năm, tán lá dầy khoảng 30cm nên che chắn cho chuồng nuôi gà cực tốt. Trồng sắn dây có thể làm nhiệt độ chuồng nuôi gà giảm bớt đi tới 6°C vào mùa Hè và cũng có tác dụng giữ ấm cho chuồng gà vào mùa Đông giá rét. Nếu bà con theo hướng trồng sắn dây, thì khi thiết kế xây dựng chuồng gà thì nên làm cột kèo cho chắc chắn một chút để chịu thêm tải trọng của sắn dây. 

Trước tiên, phải mua giống ở những cơ sở đạt tiêu chuẩn, được tiêm phòng vắc xin và có miễn dịch ngay từ những ngày đầu.

Chuẩn bị khu vực chăn nuôi đạt tiêu chuẩn cũng như đảm bảo các vấn đề về thức ăn, nước uống, chất độn chuồng và những vấn đề liên quan đến vệ sinh thú y như vệ sinh chuồng trại, tiêu độc khử trùng, kiểm tra sức khỏe đàn gia cầm.

Đặc biệt, khuyến cáo bà con thường xuyên kiểm tra đàn gia cầm vào đầu giờ sáng hàng ngày, quan sát dáng đi, tiếng kêu, mắt mũi, trạng thái phân của đàn gia cầm.

Nếu đàn gia cầm có biểu hiện khác thường, động tác đầu tiên là phải cách ly những con ốm, sau đó theo dõi đàn gia cầm ốm, nếu thời gian mắc bệnh kéo dài cần báo ngay cho cơ quan thú đến để xác định dịch bệnh và đảm bảo cho bà con chăn nuôi hiệu quả.

Ngày mới nở, gà vịt con rất yếu và đường ruột lại càng mong manh. Hệ thống nhung mao chưa phát triển đầy đủ mà sinh khối hệ vi sinh đường ruột chưa bao nhiêu. Nếu dùng kháng sinh thì kháng sinh sẽ tiêu diệt hoặc làm cản trở sự phát triển của hệ vi sinh có lợi này, qua đó làm suy yếu (chức năng tiêu hoá thức ăn) khả năng phòng vệ tự nhiên đường ruột làm ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của gia cầm non. Do đó, ngày đầu tiên không nên dùng bất cứ loại kháng sinh nào mà chỉ nên dùng vitamin C (chống stress), điện giải (giúp hấp thu nhanh, chống mất nước), glucose (giúp thú khỏe, tạo năng lượng, ổn định thân nhiệt khi chưa ăn được gì). Sang ngày thứ hai thì có thể dùng kháng sinh. Vào mùa mưa bão, dùng kháng sinh phòng chống bệnh hô hấp trước trong vòng 3 ngày, sau đó dùng kháng sinh phòng chống bệnh đường ruột trong 3 ngày.

Một số giống gà thịt lông màu phổ biến:

*Nuôi nhốt: gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng.

*Nuôi thả vườn:

-Miền Bắc: gà Mía, gà Mía Lai, gà đồi Yên Thế, gà Ri,…

-Miền Nam: gà Minh Dư, gà Phùng Dầu Sơn, gà Bến Tre, gà ta,…

Diện tích thích hợp cho 1000 gà là 120 - 160m2

Nhiệt độ thích hợp để úm gà:

  • Tuần 1: Nhiệt độ quây úm dao động trong khoảng 32 - 34°C
  • Tuần 2: Nhiệt độ quây úm là 31 - 32°C
  • Tuần 3: Nhiệt độ quây úm là 30 - 31°C
  • Tuần 4: Nhiệt độ quây úm là 28 - 30°C

Tùy điều kiện chăn nuôi, mùa vụ và khí hậu cụ thể có thể quyết định diện tích chuồng nuôi, mật độ nuôi thích hợp để vịt sinh trưởng phát triển tốt, hạn chế lây nhiễm bệnh tật.

Vịt 0-2 tuần tuổi:  22 con/m2 nền chuồng

Vịt 2- 3 tuần tuổi: 12 con/m2 nền chuồng

Vịt 4- 6 tuần tuổi: 6- 8 con/m2 nền chuồng

Vịt 7- 8 tuần tuổi: 4-5 con/m2 nền chuồng

Phải đảm bảo không có gió lùa trực tiếp vào vịt con, nhất là trong tuần tuổi đầu tiên.

Có thể sử dụng chuồng sàn cao 1,0-1,2 m.

Kích thước chuồng nuôi tùy vào số lượng vịt, thường có chiều rộng 6m, chiều dài 20m, có thể úm cho 1.500 - 2.000 vịt trong 2 tuần đầu.

Tường xây cao 1m bằng gạch, bên trên sử dụng khung lưới B40 để tạo độ thông thoáng. Phần khung có thể sử dụng bạt để che chắn vào ban đêm, ban ngày mở để tạo thông thoáng giúp nền chuồng khô ráo. Chuồng đầu tư đơn giản có thể sử dụng cót ép, phên tre để che chắn thay cho tường gạch.

Sân chơi có kính thước tối thiểu bằng kích thước chuồng nuôi.

Vịt trống và mái có đặc điểm sinh trưởng khác nhau, nên nhu cầu về dinh dưỡng cũng khác nhau. Mức ăn hàng ngày của vịt trống cao hơn vịt mái từ 5 - 10%. Do vậy nếu nuôi vịt mái theo đúng yêu cầu kỹ thuật thì vịt đực bị ốm, không đủ tiêu chuẩn giống. Ngược lại, nếu cho vịt đực ăn đủ tiêu chuẩn, khẩu phần thì vịt mái lại quá mập, ảnh hưởng đến khả năng đẻ trứng sau này.

Cần lưu ý là khi nuôi đàn vịt riêng, vẫn phải bỏ vào một số mái theo tỷ lệ 1 con mái 5 con đực để đảm bảo quá trình phát dục của con đực. Tuyệt đối không nuôi riêng con đực mà không có mái trong một thời gian dài.

Vịt con mới nở phải có nước sẵn sàng cho uống ngay, tránh tình trạng mất nước trầm trọng (vịt mất nước nhanh hơn gà gấp 3 đến 5 lần). Khi thấy đàn vịt con khoẻ mạnh (tiếng kêu to rõ và chạy nhảy nhiều) thì cho ăn ngay, không cần thiết phải đợi sau 3-4 giờ hay một buổi mới cho ăn.
Ngoài ra, phải dùng đúng chủng loại cám khuyến cáo của nhà sản xuất: cám dùng cho vịt con từ 1 ngày tuổi. Nên chia nhỏ lượng thức ăn, cho ăn 8 lần/ngày trong tuần đầu, sau đó giảm dần theo thời gian úm (3 lần/ngày từ tuần thứ 3 trở đi). Việc cho ăn nhiều lần làm kích thích tính thèm ăn, cám luôn tươi mới và không rơi vãi gây lãng phí.
Tùy theo nhu cầu khai thác (lấy thịt, lấy trứng,...) sẽ có chế độ ăn khác nhau:
- Nuôi xuất thịt: cho ăn tự do. ( Cho vịt ăn theo cữ vừa đủ không nên đổ thức ăn 1 lần từ sáng tới chiều vịt an dư đạm sẽ dễ bị ecoli)
- Nuôi lấy trứng: từ tuần thứ 4 trở đi phải cho ăn theo định mức (quy định từng tuần) để kiểm tra, theo dõi

Nhận định trên là chưa đúng. Do vịt  con mới nở còn rất yếu và các bộ phận trên cơ thể chưa hoàn thiện . Khi bỏ vịt vào nguồn nước sẽ gây tác động tiêu cực như:

+ Vịt bị nhiễm lạnh do than vịt con mới nở chưa hoạt động

+ Cuống rốn chưa khép chặt hoàn toàn, là cơ hội để các vi sinh vật trong nước xâm nhập, gây viêm rốn, viếm ruột, tiêu chảy.

Nếu sưởi không đủ thời gian, vịt con sẽ phát triển chậm, vịt lớn không đều. Đối với vịt hậu bị sau này sẽ không đẻ vào cùng thời điểm, năng suất đẻ không cao.

Khi vịt con mới nở, thận chưa hoàn chỉnh nên khả năng duy trì thân nhiệt rất kém và cần giữ ấm trong 3 ngày đầu, sau đó, thận sẽ dần hoàn thiện. Tổng thời gian sưởi là 5 ngày.

  • Khi bò mang thai được 7 tháng bắt buộc phải cho cạn sữa, dù năng suất nhiều hoặc ít mục đích đảm bảo sản lượng sữa, sức khỏe bò mẹ, sức khỏe bê con trong lứa tới. Thức ăn thời kỳ nầy phải kèm theo khẩu phần mang thai.
  • Cách cạn sữa: Tùy bò sữa nhiều hoặc ít có thể cạn sữa theo 2 cách sau:
  • Đối với bò 4-5 lít trở lên:Giảm số lần vắt trong ngày từ 2 lần xuống 1 lần/ngày hoặc 2 – 3 ngày vắt 1 lần.
  • Thay đổi giờ vắt sữa.
  • Thay đổi thứ tự thao tác vắt.
  • Cắt thức ăn tinh và thức ăn nhiều nước, hạn chế nước uống.
  • Đối với bò 2 – 3 kg/ngày có thể cạn sữa bằng cách 3-4 ngày vắt 1 lần sau đó để sữa tự tiêu. Song song phải thay đổi điều kiện sống và chăm sóc của bò như trên. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra xem bò có bị viêm hay không.
  • Sau giai đoạn cạn sữa, Cho bò ăn lại khẩu phần bình thường.
  • Thức ăn tinh: 1,5 kg/con/ngày.
  • Thức ăn thô: Tự do.
  • Mùa khô:Bổ sung thêm năng lượng (mật đường)1,2-1,5 kg/con/ngày và đạm (Urêa) 60 – 80 gr/con/ngày.

  • Phải cho bò sữa ăn đủ xơ, hàm lượng xơ tối thiểu là 35% vật chat khô trong khẩu phần. Bởi vì, chính hàm lượng xơ trong khẩu phần là yếu tố quyết định cho việc cân bằng chủng loại vi sinh vật và dạ cỏ hoạt động tốt.
  • Không thay đổi thức ăn đột ngột mà phải tiến hành thay đổi từ từ, trong 1 kkhoangr thời gian từ 4- 5 ngày để bò sữa thích nghi( tức là để quần thể vi sinh vật trong dạ cỏ thích nghi) với nó. Cách thay đổi như sau: khi sắp hết 1 loại thức ăn nào đó chúng ta cần phải thay thế một loại thức ăn mới khác thì phải cho bò sữa ăn loại thức ăn mới này từng ít một, cho đến khi bò sữa tiếp nhận nó một cách bình thường.
  • Không cho bò sữa ăn lượn thức ăn tinh lớn, chỉ 1 lần trong ngày. Vì sẽ làm hay đổi cân bằng vi sinh vật trong dạ cỏ. Tôt nhất nên chia nhỏ lượng thức ăn tinh của 1 ngày và cho ăn thành 3 lần trở lên.
  • Để đề phòng chướng bụng đầy hơ cần phơi tái các loại thức ăn thô xanh như cỏ tự nhiên, thân và lá cây ngô non,… trước khi cho bò ăn, đặc biệt là vào các tháng mùa mưa.

Kho chứa thức ăn tinh và rơm. Thể tích kho tùy thuộc vào số lượng bò. Ước tính một bò sữa sinh sản ngời cỏ xanh cần dự trữ thêm 1 tấn rơm mỗi năm.

  • Một kho nhỏ cho việc cất trữ các dụng cụ phục vụ trại như xô vắt sữa, thuốc thú y.
  • NƠi vắt sữa luôn khô ráo và sạch sẽ, ở đó có bảng ghi chép theo dõi và quản lí đàn.
  • Cũi nuôi bê sơ sinh
  • Nơi chế biến thức ăn( tinh hoặc băm chạt thức ăn thô)
  • Hố ủ rơm với urea, hố chauws rỉ mật, xác đậu nành, xác mì, hèm bia ( nếu có).
  • Hố chứa nước thải từ chuồng bò, chuồng vắt sữa, nhà chứa phân
  • Nơi nhốt riêng bò bị bệnh đang điều trị
  • Nhà để máy móc nông trại như máy kéo, máy cắt cỏ, xe chở phân

Trước khi quyết định thiết kế trại bò sữa chủ trại cần có ý tưởng rõ ràng và hiện thực ngay từ đầu.

  • Tiện lợi cho quản lí đàn và chăm sóc nuôi dưỡng. Mỗi con bò phải được ăn khẩu phần riêng dựa trên sức sản xuất của nó. Khi ăn uống, khi nằm nghỉ không bị con khác chen lấn. Tiết kiệm sức lao động khi cho ăn và khi vệ sinh chuồng trại. Dễ dàng quan sát tình trạng sức khỏe của từng con bò.
  • Dễ dàng mở rộng thiết kế trại khi đàn bò tăng lên. Phần chuồng nới rộng từ chuồng cũ hay dãy xây chuồng xây mới sẽ phù hợp và tiện lợi trong tổng thể với chuồng bò cũ.
  • Lối đi hợp lí. Lối đi ra đồng cỏ, lối bò vô chuồng, loois bò đi vào nơi vắt sữa, lối ra sân chơi tắm nắng… đường cung cấp thức ăn, đường vận chuyển phân từ chuồng ra hố ủ phân đều phải được tính toán hợp lí và tiện lợi nhất.
  • Phù hợp với cơ cấu đàn. Trong đàn bò sẽ có các nhóm bò: bò vắt sữa, bò cạn sữa, bò tơ, bê con sau cai sữa, bê con đang bú mẹ, bò đực giống ( nếu cần)… Mỗi nhóm bò có đặc điểm nuôi dưỡng và quản lí khác nhau vì vậy thiết kế chuồng trại cho mỗi nhóm này cũng khác nhau.

  • Cần đảm bảo vệ sinh chuồng nuôi sạch sẽ, thường xuyên tẩy uế chuồng nuôi bằng thuốc sát trùng. Sau đó áp dụng phương pháp sauđây để điều trị :  
  • Dùng dung dịch phèn chua hay nước quả chua(chanh, khế) rửa móng chân bị bệnh, sau đó bôi HAN-IODINE 10%, làm như vậy2 lần/ngày .
  • Điều trị khuẩn bội nhiễm bằng 1 trong các kháng sinh sau: AMPIKANA; hoặc GENTAMYXIN; hoặc KANANMYXIN; hoặc LINCOSIN. Tiêm cho bòtheo chỉ dẫn trên bao bì sản phẩm.
  • Dùng thuốc bồi bổ cơ thể; VITAMIN C, B1.Tiêm cho bò theochỉ dẫn trên bao bì sản phẩm. với phác đồ trên, điều trị liên tục 3-5 ngày